Tín ngưỡng thờ cúng tại miếu

Tín ngưỡng thờ cúng tại miếu

1. Những điểm đặc trưng nhất về miếu

Miếu thường thì nhỏ bé thờ các vị thổ thần của từng ngõ xóm, Thần cây đa, cây đề nào đó... nhưng lại có miếu rất to lớn, thờ Thánh, thờ Vua, thờ Thần y... như miếu Trần ở Nam Định, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Y miếu ở Hà Nội, Cổ miếu ở Bạc Liêu... Lại các Thái miếu thờ các vị hoàng đế mà sử sách đã đề cập. Do vậy đền và miếu cũng chỉ phân biệt một cách tương đối, chứ không thể tách bạch cặn kẽ được.

Những điểm đặc trưng về miếu

Hãy đối chiếu một số đền miếu ở các tỉnh như đền Quán Thánh Hà Nội, đền Kiếp Bạc Hải Dương, Văn Miếu Hà Nội, Trần miếu còn gọi là đền Trần - Nam Định... để thấy tính quy mô của kiến trúc, cách bố cục công trình trên địa hình theo thuyết phong thuỷ. Rồi tòa ngang dãy dọc, sân nội sân ngoại, cùng với cảnh quan tạo sự thâm nghiêm , phù hợp với thuyết âm - dương ngũ hành mới thấy được ý tứ của người xưa đối với đền, miếu là nơi thờ Thánh, Thần như thế nào.

Hiện nay, do lòng sùng bái của nhân dân, các đền miếu được bổ sung thêm câu đối, đại tự, rồi các đồ thờ, tượng pháp. Những chỗ thiếu thì rất tốt, song những nơi không thiếu lại hoá dư thừa. Nhưng do lòng thành kính dâng nên phải sắp xếp bổ sung những đồ thờ làm mới, mới mua chỉ hào nhoáng chứ thiếu tính nghệ thuật, làm ảnh hưởng tới giá trị của công trình, của di sản văn hoá và của cả đời sống tâm linh.

Chính vì vậy, các ban quản lý cần có kế hoạch bổ sung, chấp nhận sự tiến cúng theo kế hoạch, không nên bị động đưa thêm vào nơi tôn nghiêm từ ngàn xưa những đồ thờ kém chất lượng.

2. Một số miếu tiêu biểu

2.1 Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)

Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)

Văn Miếu Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, được xây dựng trên đất rộng chừng 6 mẫu, quang đãng bằng phẳng, với cây cổ thụ, cây lưu niên tạo cảnh sắc thơ mộng, cổng Văn Miếu làm lối chồng diêm hai tầng, duyên dáng nghệ thuật. Phía trong còn có cổng “Đại trung”. Hai bên là hai cổng nhỏ “Thành đức” và “Đại tài”. Tên cổng “Thành đức”, “Đại tài” mang ý nghĩa đào tạo con người có tài, có đức thì mới giúp cho đời được công việc hữu ích.

Văn Miếu còn có “Khuê Văn Các” kiến trúc đầu thế kỷ XIX, giản dị nhưng xinh xắn, có giếng “Thiên quang” (ánh sáng trời). Khu vực chính là công trình điện Đại Thành, nhà Bái Đường thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền, Tiên nho. Hai bên có Đông Vu, Tây Vu và đặc biệt là hai dãy nhà bia với 82 bia đá, khắc tên 1306 vị đỗ đại khoa của 82 khoa thi Tiến sĩ, từ năm Đại Bảo thứ III (1442), đến năm Kỷ Hợi (1779).

Phía sau Điện Thánh là khu vực Quốc Tử giám, xưa có giảng đường, thư viện, khu tam xá cho học trò ở, nhà kho... Khi nhà Nguyễn rời đô vào Huế, khu này thành đền Khải Thánh thờ thân phụ, thân mẫu của Khổng Tử (khu này bị đốt năm 1946 — mới phục hồi).

Hàng năm , đến tiết Xuân - Thu, đều chọn ngày đinh tháng Hai và tháng Tám để triều đình tế lễ. Việc chi phí sắm biện đồ lễ cúng do triều đình gánh chịu. Ngày nay, Văn Miếu không chỉ là nơi dâng hương trong các tuần tiết, mà còn là nơi đón nhiều đoàn khách quan trọng trong nước, ngoài nước. Đón nhiều đoàn nghiên cứu, tìm hiểu về các nhà khoa bảng, về việc học của ông cha ta, do vậy Văn Miếu trở thành niềm tự hào của Thăng Long, của cả dân tộc Việt Nam.

2.2 Miếu Phương Mỹ (Hải Phòng)

Miếu Phương Mỹ (Hải Phòng)

Miếu Phương Mỹ thuộc xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Tương truyền, làng Phương Mỹ có từ rất sớm. Ban đầu mang tên là trang Hoa Kiều. Vào thời nhà Lý (1010 - 1225), trang Hoa Kiều trở thành trang Hoa Chương. Đến thời Nguyễn Trang Hoa Chương đổi thành thôn Phương Mỹ và giữ nguyên tới ngày nay.

Miếu Phương Mỹ được xây cất trên một cù lao nhỏ hình mai rùa nổi giữa đầm Đông - vết tích của một dòng sông cổ ở phía đông làng. Miếu quay về hướng đông, các công trình liên hoàn từ ngoài vào lần lượt gồm hồ nước, tam quan, sân rộng có tường bao xung quanh, trước thềm tam cấp là một sân tế nhỏ. Ngăn cách với bên trong tiền đường là hệ thống 3 gian cửa gỗ làm theo kiểu cửa thùng, cung khách quen thuộc. Mặt bằng kiến trúc miếu bố cục hình chữ đinh gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Số lượng đồ thờ, đồ tế tự ở miếu Phương Mỹ tương đôi phong phú và chủ yếu mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (1802 1945). Trong đó, các di vật quý ngoài long đình, bát bửu, bài vị, quán tẩy, nhang án, số đồ thờ bằng đồng hay sành sứ khác, còn có 5 chiếc sập gỗ, 3 bộ kiệu bát công và 3 pho tượng thánh đều có niên đại thế kỷ XIX.

Hiện nay, tại hậu cung, trên ban thờ cao và sâu nhất đặt 3 tượng gỗ dáng dấp tương tự nhau, cùng ngồi trên ngai rồng, mặc long bào, đội mũ cánh chuồn trong tư thế thiết triều, vẻ mặt phảng phất nét phong sương của những võ tướng vừa trải qua trận mạc... Nhân dân địa phương cho biết đây là tượng các vị Phạm Quảng, Phạm Tử Nghi và Quý Minh đại vương được tôn làm thành hoàng của làng.

Theo sử cũ và thần tích còn lưu giữ được về cuộc đời và sự nghiệp của các vị, có thể tóm tắt như sau: Quý Minh đại vương là dũng tướng tài ba của vua Hùng Duệ Vương (đời vua Hùng thứ 18) có công trong việc bảo vệ đất nước trong cuộc nội chiến Hùng Thục (Văn Lang - Âu Lạc). Tương truyền, tại thôn Phương Mỹ, xưa kia là nơi đóng quân mai phục của Quý Minh. Sau khi ông mất, dân làng lập miếu thờ ghi nhớ công ơn của ông. Phạm Tử Nghi là người làng Vĩnh Niệm, tổng An Dương, huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trân Hải dương (nay thuộc phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Ông là người võ nghệ cao cường và có sức địch muôn người, có công lao to lớn đối với quê hương đất nước. Phạm Tử Nghi làm quan triều Mạc tới chức Phò mã Đô úy, Thái úy và được phong tước Tứ Dương hầu. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ bờ cõi của đất nước, ông lập nhiều chiến công. Kẻ địch không thắng nổi ông bèn lập mưu sát hại. Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi trên mảnh đất quê hương đã lập đền thờ ông.

Phạm Quảng là người trang Hoa Kiều (xã xỹ Đồng huyện Thủy Nguyên ngày nay), ông là một võ tướng dưới reiều Đinh Tiên Hoàng. Khi triều đình biến động cũng là lúc mối đe dọa xâm lăng của giặc Tống đã kề sát biên giới. Trong tình hình nguy ngập đó, Lê Hoàn lên ngôi. Phạm Quảng đã phò tá Lê Hoàn chống Tống. Sau chiến thắng quân xâm lược, ông trở về làng quê sinh sống. Khi mất ông được dân làng lập miếu thờ phụng.

Kể từ khi ngôi đình của làng không còn, miếu Phương Mỹ được coi như ngôi đình chung, nơi thờ phụng các vị thành hoàng những bậc thánh nhân có công lao to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước quê hương. Miếu Phương Mỹ được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1992.

2.3 Miếu An Sơn (Vũng Tàu)

Miếu An Sơn

Miếu An Sơn nằm trên đảo Côn Sơn thuộc huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. An Sơn Miếu là một ngôi miếu cổ. Miếu được xây từ năm 1785, (sau đó được xây dựng lại vào năm 1958) để thờ bà Phi Yến, vợ của chúa Nguyễn Ánh (sau trở thành vua Gia Long).

Ngôi miếu này rất linh thiêng đối với những người dân trên đảo và nó gắn liền với một câu chuyện bi thương của người phụ nữ tài sắc, giàu lòng yêu nước. Năm 1783, sau khi thua quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh mang theo vợ, con và khoảng 100 gia đình thuộc hạ chạy ra đảo Côn Sơn. Cùng với những người dân chài đang sinh sống ở Côn Sơn, Nguyễn Ánh đã lập nên 3 làng là: An Hải, An Hội và Cỏ Ống. Để đánh lại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh dự định gửi con cả là Hoàng tử Cảnh đi theo cố đạo Pháp (Bá A Lộc) sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến (Lê Thị Răm) là vợ thứ của Nguyễn Ánh đã can ngăn chồng, đừng làm việc “cõng rắn cắn gà nhà” để người đời chê trách.

Nguyễn Ánh không những không nghe lời khuyên của bà mà còn tức giận, nghi bà thông đồng với quân Tây Sơn, nên định giết bà. Nhờ quân thần can xin, Nguyễn Ánh đã tông giam bà vào một hang đá trên đảo Côn Lôn nhỏ. Khi quân Tây Sơn đánh ra đảo, Nguyễn Ánh bỏ chạy ra biển. Hoàng tử Cải (còn gọi là Hoàng tử Hội An), con bà Phi Yến lúc đó mới 4 tuổi đòi mẹ đi cùng. Trong cơn tức giận Nguyễn Ánh đã ném con xuống biển. Xác Hoàng tử Cải đã trôi vào bãi biển cỏ ống. Dân làng đã chôn cất Hoàng tử. Bà Phi Yến, theo truyền thuyết được một con vượn và một con hổ cứu ra khỏi hang và về sông với dân làng cỏ ống để trông nom mộ Hoàng tử Cải. Một lần, sau khi bị một kẻ xấu xúc phạm bà đã tự tử để thủ tiết với chồng. Nhân dân trên đảo vô cùng thương tiếc bà và đã lập nên ngôi miếu to, đẹp để thờ bà. Năm 1861, Pháp sau khi chiếm đảo đã quyết định di tản toàn bộ dân vào đất liền để xây nhà tù. Ngôi miếu bị đổ nát dần. Năm 1958, nhân dân trên đảo đã xây dựng lại ngôi miếu trên nền cũ.

2.4 Miếu và chùa Trung Hành (Hải Phòng)

Miếu và chùa Trung Hành

Miếu và chùa Trung Hành nay thuộc phường Đằng Lãm, quận Hải An. Xưa kia là vùng đất Ngô Quyền đóng quân và huy động sức người, sức của, đánh quân xâm lược Nam Hán năm 938, mở đầu kỷ nguyên độc lập lâu dài của đất nước. Là một trong số 17 làng xã có hệ thống phòng, tích chứa quân lương của Ngô Quyền, nên Trung Hành được các triều đại kế tiếp phong sắc, công nhận việc thờ tự Ngô Vương.

Đặc biệt, Trung Hành vốn nổi tiếng là địa linh nhân kiệt, nhiều người đỗ đạt, nhiều văn quan võ tướng có tài, hiện còn được ghi lại trên các văn bia, gia phả của nhiều dòng họ. Ngạn ngữ có câu; An Dương Trung Hành, Kim Thành Quỳnh Khê, thế ngôn chi đa sĩ nghĩa là: Làng Trung Hành, huyện An Dương; làng Quỳnh Khê, huyện Kim Thành đời truyền có nhiều quan.

Miếu Trung Hành thờ Ngô Quyền có quy mô vừa phải, hòa quyện với cảnh quan làng xóm. Dấu vết trang trí nghệ thuật của lần khởi dựng đầu tiên (đầu thế kỷ XVII) còn để lại trên 4 cây cột cái sơn son, chạm rồng mây. Những điểm nổi bật của di tích là sự hoqjp lý, liên hoàn của toàn bộ khuôn viên. Bằng những vật liệu truyền thông như: gỗ, đá, ngói, gạch Bát Tràng gắn vữa hồ... bàn tay người nghệ nhân làng xã đã tạo ra một công trình có kết cấu hoàn chỉnh, quy mô khép kín gồm: kiến trúc cổng, tòa bái đường, hai bên giải vũ, cung ngoài, cung trong kiểu nội công, ngoại quốc.

Tòa cung trong, cung ngoài được bài trí các cổ vật quen thuộc như: kiệu bát cống, giá chiêng, bộ bát bửu, nhiều di vật bằng đồng như; chuông, khay, đèn chân nến, đỉnh đốt trầm, đồ sứ. Tòa hậu cung thâm nghiêm thờ Ngô Vương Quyền. Tượng Ngô Quyền tạo thiền trên ngai rồng, được tạc theo lối trụ tròn, thể hiện rõ uy thế của một vị vua. Cách miếu chừng 300m về bên trái và hướng tây là chùa Trung Hành, tên chữ là Hưng Khánh tự.

Chùa có bố cục kiến trúc huyền thông: Tam quan gác chuông, tòa phật điện, nhà thờ tổ, vườn bia, mộ tháp. Cổng chùa đồng thời là gác chuông có 2 phần chính: cổng giữa 3 tầng 12 mái, lợp ngói cổ 2 lớp, hai lôi bên xây kiểu 2 tầng, 8 mái. Kiến trúc cổng chùa mang ý nghĩa dịch học sâu sắc, biểu thị 3 thành phần cơ bản của vũ trụ là Trời - đất - người. Tầng giữa treo quả chuông đồng cao l,4m đúc năm Minh Mạng thứ 3 (1823). Tòa phật điện chùa Trung Hành thờ các pho tượng phật: Tam thế, A di đà, Văn Thù, Phổ hiền, Hộ thiện, Trừ ác... Đặc biệt tại đây còn lưu giữ pho tượng vị hoàng đế nhà Mạc.

Tượng Hoàng đế có khuôn mặt trái xoan, trán dô, mũi gồ, mắt một mí; cổ cao 3 ngấn, tai chảy xệ như tai Phật, đầu đội mũ Vương miện trang trí một dải bằng 12 ô, ô chính giữa và ô sau gáy khắc nổi chữ vương Thân tượng khoác áo hoàng bào. Giữa ngực có bối tử hình chữ nhật trong khắc rồng, thân uốn khúc dạng yên ngựa.

Pho tượng được đặt ở vị trí kín đáo (cuối chật điện) toàn thân phủ một lớp sơn dày, trông thoáng qua giống như tượng gỗ. Lý giải về pho tượng đá chùa Trung Hành, một số nhà nghiên cứu lịch sử cho biết: Khi nhà Lê Trung Hưng đánh đuổi nhà Mạc, một nhánh nhà Mạc lẩn trốn tới Đằng Lâm mai danh, ẩn tích đổi từ họ Mạc sang họ Khoa. Họ đã mang theo pho tượng đá giấu dưới ao làng, lúc tình hình tạm yên, được vớt lên bảo quản trong chùa. Nhưng đề phòng bị phát hiện, họ quét phủ một lớp sơn để che mắt nhà Lê.

Lễ hội ở Trung Hành diễn ra từ ngày 17 tháng Giêng âm lịch. Xưa có tục múa roi, diễn lại khí thế xung quân, diệt giặc của quân lính thời Ngô Quyền. Khi múa roi, một người cầm cờ thêu chữ Đằng Giang thiên cổ đứng hàng đầu, tám người cầm roi chia nhau đứng ở 2 bên. Tất cả quay m ặt vào hướng đình theo lệnh, cứ dứt một hồi trống thì người cầm cờ và roi đều vái và hô to “lạy đức Vua”, hết lượt thứ 3 họ bắt đầu quay lại múa roi, múa cờ, reo hò vang dội. Cụm di tích văn hóa chùa, miếu Trung Hành được nhà nước xếp hạng năm 1993.

2.5 Miếu Nam (Hải An - Hải Phòng)

Miếu Nam (Hải An - Hải Phòng)

Miếu Nam là một di tích lịch sử thuộc thôn Hà Liên - Bắc Sơn - Hải An, đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia (tháng 1 năm 1990). Tại đây, nhân dân địa phương tôn thờ vị công thần triều Lý, tên gọi Nguyễn Hồng. Miếu Nam trước đây vốn là ngôi đình Nam, có tên chữ Vạn Thọ, được tạo dựng trên gò đất phía Nam của làng, văn bia ghi nhận là nơi hoá của Nguyễn Hồng. Trên nền xưa cảnh cũ, di tích miếu Nam được tạo dựng từ phế tích của ngôi đình cổ xưa.

Và miếu Nam tiếp tục bảo lưu một truyền thống cực kỳ quý báu của nhân dân địa phương được thành văn khắc trên tấm bia đá, tôn thờ danh tướng Nguyễn Hồng: bé thì chăm chỉ học hành, vâng lời cha mẹ dạy bảo. Lớn lên, khi nước nhà bị giặc sang đánh chiếm thì hăng hái lên đường ra trận, giặc tan lại về quê nhà. Tấm văn bia cổ, niên hiệu Tự Đức (1848 - 1883) còn cho biết lai lịch, công huân vị danh tướng như sau: Năm 544, nước Vạn Xuân do Lý Nam Đế lãnh đạo bị giặc ngoại xâm rình rập uy hiếp, triều đình có việc cấp bách, biết Nguyễn Hồng người Hà Liên mưu tài, trí giỏi, võ nghệ tinh thông, vua Lý đã phong cho Nguyễn Hồng quyền đốc quân các châu, quận và ra mặt trận chống giặc ở cửa sông Bạch Đằng. Hai đạo quân thuỷ bộ do Nguyễn Hồng chỉ huy đã giáp trận, diệt tan kẻ giặc, nước nhà lại yên.

Sau khi được vua Lý ban thưởng rất hậu, Nguyễn Hồng xin được trở lại quê nhà khao thưởng dân làng, rồi sau đó mất tại Hà Liên. Từ nhiều năm nay, chính quyền và nhân dân Bắc Sơn đã tôn tạo trên quê hương mình một điểm di tích và danh thắng, để từ di sản văn hoá này muốn giáo dục và phát huy khơi dậy niềm tự hào về truyền thống yêu nước chống ngoại xâm và truyền thống lao động cần cù của người dân địa phương.

Di sản văn hoá miếu Nam được ẩn mình dưới bóng cây cổ thụ, soi bóng xuống dòng mương xanh mát quanh năm , tạo thành cảnh quan trên bến dưới thuyền hết sức sinh động.

Một trong nhiều văn vật quý được dân làng lưu giữ tại miếu là đôi kiệu rồng dài 4m, mang dấu ấn nghệ thuật nhà Nguyễn (thế kỷ XIX). Cả hai kiệu đều đặc tả một phức hợp rồng - một con vật gần gũi trong đời sống tâm linh người Việt Nam. Rồng trong nhiều thế bay, sum vầy giữa áng mây cụm song song từng đôi một. Khác với kiệu bát cấy ở nhiều đình, miếu khác ở Hải Phòng, cỗ kiệu thất cống (7 thanh rồng 7) ở miếu Nam được đánh giá vào bậc độc nhất vô nhị hiện nay.

Lễ hội ở miếu Nam được mở đúng ngày sinh của danh tướng Nguyễn Hồng (16 tháng 2 âm lịch hàng năm). Nhưng theo chu kỳ đại lễ thì cứ 4 năm lại mở một lần. Người đến lễ hội không chỉ nhân dân địa phương mà còn đông đảo khách thập phương. Sau lễ dâng hương tại miếu Nam là cuộc rước nghi vệ thành hoàng, long đình, bát biểu và hai cỗ kiệu quý trên các nẻo đường quanh thôn, xã. Đội ngũ trong đám rước đông vui nhưng chỉnh tề, uy nghi, rực rỡ sắc màu truyền thông và rộn ràng trong khúc nhạc lưu thuỷ hành vân. Kiệu hoa, kèn lệnh xen lẫn tiếng trống, chiêng như làm sống lại hào khí anh hùng của một vùng quê ngoại thành.

2.6 Thất Phủ Quan Võ miếu (thành phố Hồ Chí Minh)

Thất Phủ Quan Võ miếu

Ngôi miếu đầu tiên tại Sài Gòn do nhóm người Hoa di dân đóng góp xây dựng nên là Thất Phủ Quan Võ miếu (thờ Quan Thánh Đế Quân, tức Quan Công - nhân vật nổi tiếng của thời Tam Quốc hậu Hán), ra đời năm 1775, tọa lạc ở một vị trí quan trọng thuộc khu vực trung tâm Chợ Lớn, trên đường Phúc Châu (nay là đường Triệu Quang Phục). Song song với ngôi miếu này, người Hoa cũng dựng lên miếu Thất Phủ Thiên Hậu để thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu.

Sau năm 1975, hai ngôi miếu này bị hư hại nặng và nay không còn nữa. Tuy nhiên, miếu Quan Đế và miếu Thiên Hậu, được xây dựng vài năm sau, hiện vẫn đứng sừng sững như thách thức thời gian. Miếu Thiên Hậu (số 710 đường Nguyễn Trãi) gắn với hoạt động của hội quán Tuệ Thành, trong khuôn viên của miếu có trường Trung học cơ sở Mạch Kiếm Hùng. Còn một miếu khác là miếu Quan Đế (số 678 đường Nguyễn Trãi) gắn với hội quán Nghĩa An, bên trong khuôn viên là trường tiểu học Chính Nghĩa.

2.7 Miếu Quan Đế (thành phố Hồ Chí Minh)

Miếu Quan Đế

Miếu Quan Đế (Nghĩa An hội quán) ở thành phố Hồ Chí Minh là công trình lớn, được người Hoa và nhân dân sùng bái. Miếu thờ Quan Đệ tức Quan Vân Trường, còn gọi Quan Vũ là danh tướng phò nhà Hán thời Tam Quốc. Bởi lòng trung thành và đức độ của ông nên người Hoa, người Việt đã lập miếu thờ ông ở khắp các tỉnh thành trong nước, nhất là địa bàn có đông người Hoa.

Điều đặc biệt là ông được các triều đình Trung Quốc hết sức tôn vinh, phong từ Vũ An Vương (1102) lên Đại Đế, rồi Vũ Đế, thờ ngang với Khổng Tử. Hàng năm các quan phải đến cúng tế từ 13 tháng Giêng. Có nơi còn thờ ông trong chùa gọi là Già Lam Thần. Ngày 13 tháng 5 là ngày lễ chính, được nhân dân đến dâng hương, tế lễ rất đông.

2.8 Miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu (thành phố Hồ Chí Minh)

Miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu

Miếu Thiên Hậu (Tuệ Thành hội quán) tại Chợ Lớn thành phố Hồ Chí Minh là ngôi miếu cổ, thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu từ lâu đời. Có ảnh hưởng rộng khắp ở thành phố Hồ Chí Minh và Nam Bộ.

Hàng năm, vào ngày 23 tháng 3 lễ Vía Thiên Hậu được tổ chức rất trọng thể. Những dịp cuối năm (28 Tết) ở đây còn tổ chức lễ khai ấn. Ấn bằng đồng, hình vuông cạnh 9cm. Mặt ấn khắc 4 chữ triện “Hộ quốc tử dân ” (giúp nước cứu dân). Ban tự trị bốc thăm, ai bắt được thăm có chữ “Bê ấn” sẽ được bê ấn, cho người có thăm “Khi ấn đại kiết” đóng. Đầu tiên ấn đóng vào hai tờ giấy đỏ dán vào cột chính ở cung Thiên Hậu. Sau đó mọi người đua nhau đưa khăn vào xin ấn và những khăn vuông đó được mọi người xếp lại lấy may, hy vọng trong năm sẽ được Thiên Hậu Thánh Mẫu độ trì cho cuộc sống bình an, hạnh phúc.

2.9 Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang)

Miếu Bà Chúa Xứ

Miếu Bà Chúa Xứ thuộc phường Núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc là một trọng điểm hành hương và du lịch của tỉnh An Giang Việt Nam.

Nguồn gốc

Theo truyền tụng trong dân gian thì tượng Bà đã có lâu đời. Cách đây khoảng 200 năm, Bà được dân địa phương phát hiện và được khiêng từ trên đỉnh núi Sam bằng 12 cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của bà qua miệng cô đồng, nên người dân lập miếu để tôn thờ. Có ý kiến khác cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi Thoại Ngọc Hầu về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

Kiến trúc

Ban đầu miếu Bà được cất đơn sơ bằng tre lá. Năm 1870, ông Giáo Gia đề xướng xây cất lại thành ngôi miếu ngói và sau đó còn trùng tu nhiều lần. Đến năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng.

Kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chính điện, phòng khách, phòng của Ban Quý tế...

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giang tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Bên trong Miếu Bà Chúa Xứ

Các nhà chuyên môn cho biết tượng Bà Chúa được tạo vào khoảng cuối thế kỉ VI đầu thế kỷ thứ VII, bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao. Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại. Bệ đá có chiều ngang l,60m ; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn.

Tượng thờ này thuộc nền văn hóa mang mô típ mỹ thuật Bà-la-môn giáo có nguồn gốc từ Ân Độ, tương tự tượng Phật Bốn tay ở chùa Linh Sơn (huyện Thoại Sơn, An Giang). Và thực ra đây không phải là tượng người phụ nữ mà là tượng nam thần đang ngồi trầm tư, nghĩ ngợi, thường gặp trong các tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo.

Nhà văn Sơn Nam cũng đã ghi: “Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khơme, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. người Việt đưa tượng vào miếu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ’’ là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy...”

Và ngoài các ban thờ Hội Đồng, Tiền hiền, Hậu hiền; cạnh tượng Bà Chúa Xứ, phía bên trái có một Linga bằng đá rất to, cao khoảng l,2m , gọi là Ban thờ Cậu. Hội Bà Chúa Xứ được tổ chức hàng năm rất trọng thể vào các ngày cuối tháng 4 Âm lịch.

Viết bình luận