Văn khấn khi cưới gả - Văn khấn đám cưới
Mục lục nội dung
Con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội. Nói hẹp lại thì con người là thành viên của gia đình. Gia đình lớn mạnh sẽ nảy sinh ra họ tộc và nhiều họ tộc hợp thành làng xã. Vậy mỗi gia đình khi con cái đến tuổi thành niên phải lo dựng vợ gả chồng tạo thành cái tổ ấm nhỏ, rồi từ đó mới phân chia, phân cành thành họ tộc. Mỗi khi trong nhà, trong họ có chuyện cưới gả thì phải thông qua họ tộc, phải lễ tơ hồng Nguyệt lão, lễ Gia thần, Gia tiên để cho sự tác thành được viên mãn.

Ngày nay, giữa thời đại tiên tiến, nhiều thủ tục cưới hỏi được giảm nhẹ để phù hợp với hoàn cảnh làm ăn, công tác. Nhưng việc lễ Gia thần, Gia tiên hoặc bài văn khấn tơ hồng Nguyệt lão để cho đôi trẻ nên duyên gặp may mắn, mệnh vận phù hợp với nguyên lý âm dương ngũ hành sinh khắc, trong dân gian vẫn có nơi thực hiện.
Thử ngẫm sách “Tam mệnh thông hội” có nói về mệnh nam nữ khi hợp duyên: “Mệnh nam nên vượng, vượng thì phúc, suy thì hại. Mệnh nữ nên suy, suy thì phúc, vượng thì hại”, dân gian lại bảo “Cả mái hại sống”. Điều đó phù hợp với sự cương nhu của âm dương, tất có hại.
Do vậy khi cưới gả, dù nhà trai hay nhà gái, người ta đều làm cỗ cúng Gia thần, Gia tiên cho đôi nam nữ dâng hương trước linh vị Tổ tiên, còn các bậc cha chú thì lo khẩn cầu chư vị độ trì cho đôi trẻ hạnh phúc, nối được đức nghiệp ông cha.
1. Văn lễ khi cưới
Hôm nay là ngày... tháng... năm ........................
Bản gia ở tại thôn... xã.... huyện... tỉnh... nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Kính lạy chư vị Gia thần
Kính lạy liệt vị Gia tiên
Con trai (hoặc gái) của tín chủ là... năm nay... tuổi... kết duyên cùng... người thôn... xã... tỉnh.
Nay thủ tục hôn lễ đã thành, xin kính báo Gia thần, Gia tiên. Lại xin sắm biện lễ vật tịnh tài, kính xin bề trên nạp thụ phù hộ cho các cháu giai lão trăm năm, vững bền hai họ.
Nghi thất nghi gia, con cháu thịnh đạt.
Cúi xin chư vị, đại xá gia ân.
Mọi sự hanh thông, cung trần bái thỉnh
Cẩn cáo!
Có gia đình còn sắm biện lễ vật bày trên ban riêng, lễ “Tơ hồng Nguyệt lão ”. Tục này không thịnh như trước nhưng vẫn được tồn tại.
2. Văn tế tơ hồng Nguyệt Lão
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tỉnh... huyện... xã... thôn... năm ... tháng... ngày...
Tên tôi là... đại diện cho ông, bà... cưới vỢ cho con là... kết duyên cùng... con ông bà... quê quán...
Nay việc hôn nhân thành sự, gia chủ thành tâm sắm biện phù lưu trà tửu cùng lễ vật chi nghi, kính cáo với “Thiên tơ hồng Nguyệt lão” rất chính, rất trung.
Ngọc kính chiếu rõ ràng thế sự,
Xích thằng so bền chặt nhân duyên
Trước hai cháu đã để tâm am hiểu,
Nay uyên ương sum họp đoàn viên.
Đôi lứa nên nhà nên cửa, tác thành do Tổ tiên
Bằng phẳng cầu Ô đã bắc, cho đôi trẻ được nên duyên,
Cúi trông đức cả, rộng thấu lòng này
Yên ổn phò cho hai họ, xướng tùy nguyền trọn bách niên trai gái điềm làng sớm ứng, dài lâu phúc hưởng vô biên.
Hân hạnh, xiết bao mừng rỡ
Vun trồng, nhờ cậy thiên tiên.
Cẩn cáo!



















Viết bình luận